loader

Nguồn nước ngầm ở Đồng bằng sông Cửu Long suy giảm nghiêm trọng

Nguồn nước ngầm ở Đồng bằng sông Cửu Long suy giảm nghiêm trọng

Nguồn nước ngầm ở Đồng bằng sông Cửu Long suy giảm nghiêm trọng

18/05/2016

(ĐCSVN)- Toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long hiện có hàng trăm nghìn giếng khoan khai thác nước ngầm do người dân tự đầu tư và hàng trăm trạm cấp nước tập trung. Ước tính, tổng lượng nước ngầm khai thác toàn vùng trên dưới 1 triệu m3/ngày.

Nhiều giếng khoan ở ĐBSCL nước bị nhiễm mặn (Ảnh: K.V)

Tình trạng khai thác nước ngầm tràn lan trong sản xuất nông nghiệp thời gian qua ở khu vực này đã khiến nguồn nước bị suy giảm nghiêm trọng. Trong khi đó, tình trạng xâm nhập mặn, hạn hán kéo dài đã làm suy kiệt nguồn nước ngọt trong hệ thống các sông ngòi, kênh rạch, hồ chứa… ở Đồng bằng sông Cửu Long, điều này dẫn đến nguy cơ thiếu nước ngọt cho sản xuất và sinh hoạt.

Những năm gần đây, nhu cầu sử dụng nước ngầm gia tăng mạnh mẽ do tình trạng bùng nổ các hoạt động nuôi trồng thủy sản không theo quy hoạch, nhất là nuôi tôm tại các địa phương ven biển của Đồng bằng sông Cửu Long như Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh, Tiền Giang, Kiên Giang. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Cà Mau cho biết, tổng số giếng khoan trong tỉnh đã lên đến hơn trên 138 nghìn, lưu lượng nước khai thác khoảng 400.000m3/ngày đêm. Theo thống kê chưa đầy đủ, toàn tỉnh Sóc Trăng cũng hiện có hơn 80.000 giếng khoan, trong đó chỉ riêng thị xã Vĩnh Châu đã có hơn 22.000 giếng các loại…, điều này cho thấy số lượng giếng khoan ở các địa phương Đồng bằng sông Cửu Long đang ngày càng tăng nhanh chóng. Qua khảo sát, người dân ở khu vực này mới chỉ khai thác được ở các tầng chứa nước có độ sâu không lớn. Mặt khác, do chưa có quy hoạch tài nguyên nước nên việc khai thác phần lớn tự phát, nhiều khu vực phân bố mật độ giếng quá dày, lưu lượng vượt quá khả năng bổ cập của tầng chứa nước nên đã xảy ra hàng loạt các tác động tiêu cực do khai thác như cạn kiệt cục bộ, gia tăng quá trình ô nhiễm trên bề mặt, gia tăng quá trình nhiễm mặn, sụt lún nền đất. Ông Nguyễn Thành Lâm, Phó trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre cho biết, do hạn hán, xâm nhập mặn kéo dài từ đầu năm đến nay, Ba Tri là một trong những huyện thiếu nước ngọt nghiêm trọng, người dân đã phải khoan giếng để lấy nước sinh hoạt, tuy nhiên các giếng khoan đều bị nhiễm mặn, không thể sử dụng được. Ngay cả Nhà máy nước Tân Mỹ, cung cấp nước cho các xã, thị trấn ở Ba Tri, nước cũng bị nhiễm mặn, khiến cho việc sử dụng nước của người dân gặp rất nhiều khó khăn.

Theo Hội Địa chất thủy văn Việt Nam, tính đến năm 2015, mực nước ngầm của Đồng bằng sông Cửu Long đã bị tụt giảm khoảng 15m. Nếu như trước đây, giếng khoan cần độ sâu khoảng 100m là có thể khai thác được nguồn nước đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thì nay phải khoan sâu gấp đôi. Nghiêm trọng hơn, một tỷ lệ lớn nguồn nước ngầm ở Đồng bằng sông Cửu Long đã bị nhiễm mặn, nhiễm hóa chất không sử dụng được. Đây là hệ lụy của việc khai thác nước ngầm tràn lan, quá mức và tình trạng sử dụng hóa chất bừa bãi, xả thải nước chưa qua xử lý ra môi trường trong các hoạt động sản xuất nông nghiệp, công nghiệp…

Theo đánh giá của ông Triệu Đức Huy, Phó Tổng Giám đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia, nguồn nước ngầm ở Đồng bằng sông Cửu Long rải rác không đều, sự phân bố mặn, nhạt phức tạp, đan xen trong cùng một tầng chứa nước nên rất khó khăn trong khai thác. Đòi hỏi phải có kỹ thuật, chuyên môn, chi phí đầu tư công trình lớn và phải phân bổ và sử dụng nguồn nước hợp lý. Do đó, các địa phương cần quản lý tốt việc khai thác nguồn nước ngầm, tránh khai thác tùy tiện, quá mức, để lại hậu quả về sau. Đồng thời khuyến khích người dân khai thác nguồn nước ngầm tập trung, hạn chế khoan giếng để tránh tình trạng thất thoát, gây ô nhiễm nguồn nước ngầm.

Người dân ĐBSCL phải tích trữ nước ngọt để sử dụng trong sinh hoạt
vào những vật dụng như thế này (Ảnh: K.V)

Trước thực trạng trên, nhiều địa phương đã đưa ra các biện pháp nhằm bảo vệ nguồn nước ngầm. Tuy nhiên, để làm triệt để điều này cũng còn gặp rất nhiều khó khan. Ông Lương Văn Tân, Phó trưởng phòng Tài nguyên khoáng sản-Khí tượng thủy văn, Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Cần Thơ cho biết, Thành phố này đã tiến hành lập quy hoạch nước mặt, nước dưới đất trên địa bàn. Tuy nhiên, đến nay, việc lập quy hoạch nước mặt đạt 50%, còn quy hoạch nước ngầm mới đạt khoảng 10%. Việc chậm hoàn thành việc lập quy hoạch tài nguyên nước mặt, nước ngầm đã gây khó khăn cho việc ban hành vùng cấm, vùng tạm thời cấm hoạt động khai thác nước dưới đất, công tác cấp phép thiếu chủ động, việc xây dựng danh mục giếng khoan không còn sử dụng, cần trám lấp chưa kịp thời.

Tại tỉnh Sóc Trăng, trong thời gian chờ khoanh định, công bố khu vực phải đăng ký, khai thác nước dưới đất, Uỷ ban nhân dân tỉnh đã ban hành văn bản quy định cụ thể thẩm quyền tổ chức việc đăng ký khai thác nước dưới đất nhằm ngăn chặn tình trạng khai thác tràn lan, gây ảnh hưởng xấu đến số lượng cũng như chất lượng nguồn tài nguyên nước. Cụ thể, đối tượng khai thác, sử dụng nước dưới đất cho mục đích sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có quy mô không vượt quá 10m3/ngày đêm phải lập hồ sơ, thủ tục đăng ký khai thác. Riêng các trường hợp đã đăng ký theo Luật Tài nguyên nước năm 1998 với quy mô khai thác hơn 10m3/ngày đêm, phòng tài nguyên và môi trường các huyện, thị xã, thành phố thông báo cho các tổ chức, cá nhân đã đăng ký lập hồ sơ đề nghị cấp phép mới theo quy định.

Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia cũng chỉ đạo Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Nam, nhanh chóng cùng với địa phương lựa chọn các vùng có nhu cầu cấp bách nhất về nước sinh hoạt tại các tỉnh bị xâm nhập mặn, để tiến hành khoan thăm dò và kết cấu thành các giếng khoan khai thác phục vụ nhu cầu về nguồn nước ngọt cho địa phương. Nhưng muốn tìm ra các nguồn nước ngầm có giá trị để cung cấp cho nhu cầu chống hạn trước mắt nhưng hiệu quả lâu dài, phải xây dựng hệ thống cấp nước cho các điểm tập trung dân cư nhằm vận hành và quản lý lâu dài. Trong đó phải đảm bảo nguyên tắc phát triển bền vững.

Theo chỉ đạo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia cũng đã cung cấp các bản đồ phân bố nước ngọt của từng tầng chứa nước, ở các độ sâu khác nhau. Các tài liệu về kết quả điều tra, đánh giá nguồn nước dưới đất trên địa bàn và thống kê chiều sâu phân bố theo từng địa phương, để Bộ gửi Uỷ ban nhân dân các tỉnh và thành phố khu vực Đồng bằng sông Cửu Long./.. 

K.V.http://dangcongsan.vn/